| Cuộc khảo sát lương năm 2007 của Navigos Group trên 28.000 nhân viên của 156 công ty cho thấy tình hình trả lương của các doanh nghiệp ở Việt Nam trong vài năm gần đây đã có sự cải thiện đáng kểTrong đó, mối tương quan giữa 2 yếu tố lương và năng lực đã ngày càng gần nhau hơn
Xuất xứ, nguồn gốc của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách tiền lương. Công ty của Anh trả lương khác với công ty Mỹ, của Mỹ khác Nhật,… nhưng mức độ chênh lệch không đáng kể. Marketing và tài chính có mức lương cao nhất Những người làm việc trong lĩnh vực marketing và tài chính là những người có thu nhập cao nhất. Có công ty đã trả cho người mới khởi điểm vào làm ở 2 ngành này mức lương cả ngàn USD/tháng. Còn ở vị trí cao cấp thì ở một số công ty nước ngoài tại Việt Nam, sự chênh lệch về lương so với khu vực đã được rút ngắn khá nhiều. Hầu như không có gì là đáng ngạc nhiên. Cả hai ngành nghề này đều đang khan hiếm nhân sự có kỹ năng trong khi chúng lại là những ngành nghề có tốc độ phát triển nhanh về số lượng lao động cũng như về mặt doanh thu. Hệ quả là tiền lương sẽ tăng lên nhanh chóng. Năng lực quyết định mức lương Bằng cử nhân đơn thuần không phải là yếu tố quyết định cho một mức lương cụ thể mà năng lực của người lao động, trong đó kinh nghiệm, kỹ năng ngoại ngữ tốt mới là những yếu tố quyết định. Đối với những nhân viên có học vị thạc sĩ, không có sự khác biệt lớn về mức lương giữa những người có bằng cấp này và hầu hết họ là những người được trả lương cao. Tương tự, cuộc khảo sát đã một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của những bậc cha mẹ khi cho con cái ra nước ngoài du học. Việc học tập ở nước ngoài cũng như những kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài được xem là yếu tố tích cực quyết định vấn đề lương bổng. Những người làm công tác quản lý được đào tạo ở nước ngoài có lương cao hơn gần gấp đôi so với những người chỉ được đào tạo trong nước. “Bái bai” lương tháng 13 Thị trường lao động đang ngày một khan hiếm những nhân sự có năng lực, các công ty ngày càng coi trọng gìn giữ và thu hút nhân tài. Ngày càng có nhiều công ty bỏ chế độ lương tháng 13 mà thay vào đó là một chính sách thưởng dựa trên năng lực, tăng cơ hội cho nhân viên nhận được tiền thưởng nhiều hơn tháng lương thứ 13. Bà Winnie Lam, giám đốc bộ phận tư vấn nhân sự Navigos Group, phân tích: “Chế độ lương tháng 13 chỉ mang tính chất “cào bằng”, vui vẻ trong ngày Tết, nó không phản ánh được năng lực thực sự của người lao động. Còn chính sách thưởng được xây dựng dựa trên hiệu quả làm việc và những cống hiến của nhân viên dành cho công ty. Đây chính là cách thức các công ty khuyến khích nhân viên và giữ người tài”. Cuộc khảo sát cũng đã “vẽ” lên được một biểu đồ tăng trưởng rất nhanh trong việc các công ty Việt Nam dùng chính sách chia cổ phần như là một biện pháp thiết yếu để thu hút và giữ chân người tài. Các công ty với chính sách chia cổ phần, mà đỉnh điểm là việc lên sàn chứng khoán với sự phát triển đến mức chóng mặt trong năm qua, đã gây nên một sự xáo trộn lớn trên thị trường lao động. Các công ty này đã thu hút một lượng lao động khá lớn về họ. Từ đó, đã góp phần đẩy mặt bằng chung về lương ở Việt Nam lên cao hơn. (Sưu tầm từ Internet) |
Càng giỏi, lương càng cao
Tháng Tư 14, 2007 lúc 11:56 sáng (KỸ NĂNG SỐNG)
Cha giàu cha nghèo
Tháng Tư 14, 2007 lúc 11:55 sáng (TỰ DO TÀI CHÍNH)
By Trần Cao Dũng (trích dịch theo “RICH DAD, POOR DAD“)
Tên khác của cuốn sách: “Dạy con làm giàu“
Một người rất thông minh và có học vị cao. Là một tiến sĩ, người đã hoàn thành chương trình đại học bốn năm trong thời gian chưa đầy hai năm. Sau đó ông theo học tiếp cao học tại các trường đại học nổi tiếng tại Mỹ như: Stanford University, University of Chicago và Northwestern University – ở đâu cũng được hưởng học bổng toàn phần. Người cha thứ hai chưa bao giờ học qua lớp 8 phổ thông…
Cả hai người đàn ông đều làm việc vất vả suốt cuộc đời và đã thành công trên con đường công danh. Ai cũng có những khoản thu nhập đáng nể, nhưng một trong số họ luôn gặp những khó khăn tài chính suốt cuộc đời. Người thứ hai trở thành nhà tỉ phú giầu nhất bán đảo Hawaii. Một người khi mất chỉ để lại những khoản nợ chưa kịp trả, người thứ hai di trúc lại hàng chục triệu đôla, những công việc từ thiện và nhà thờ.
Họ là những người kiên cường, có uy tín và gây được sự thu hút nơi công chúng. Cả hai đều cho tôi những lời khuyên, nhưng lại không khuyên cùng một thứ. Ai cũng rất tin tưởng vào học vấn, nhưng họ không khuyến khích tôi học về cùng một lĩnh vực.
Nếu tôi chỉ có một người cha, chắc chắn tôi phải chấp nhận hoặc bác bỏ những lời dậy dỗ. Một khi có quyền sở hữu hai người đều khuyên bảo, tôi đã may mắn được lựa chọn và so sánh cách suy nghĩ của hai người – một người giầu và một người nghèo.
Thay cho việc đồng ý hoặc phủ nhận cách nghĩ của người này hay người kia, tôi nhận thấy rằng, khi so sánh tôi suy nghĩ nhiều hơn để rồi lựa chọn theo sở thích của riêng mình.
Hồi đó tôi hơi khó sử, bởi người giầu vẫn chưa giầu và người nghèo vẫn chưa nghèo. Cả hai chỉ mới đang bắt đầu sự nghiệp của mình và cả hai đều phải giải quyết những khó khăn tài chính và gia đình. Nhưng hai người nhìn nhận về một vấn đề hoàn toàn trái ngược nhau. Vấn đề đó là tiền bạc.
Người cha thứ nhất thường nói: “Tình yêu cho đồng tiền là nguyên nhân của mọi sự xấu xa”
Người thứ hai: “Thiếu tiền là nguyên nhân của mọi sự xấu xa”
Sở hữu hai người cha có cá tính mạnh và luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp đã là điều thật không mấy dễ chịu cho một đứa trẻ như tôi. Tôi luôn muốn mình là đứa con ngoan, biết nghe lời, nhưng khổ nỗi cả hai người cha đều không nói về một thứ. Sự tương phản, nhất là về tiền bạc, khác nhau một trời một vực, do vậy tôi trưởng thành trong sự tò mò và hồi hộp. Tôi thường hay nghĩ về những điều họ nói.
Tôi đã bỏ ra khá nhiều thời gian suy nghĩ và đặt ra những câu hỏi kiểu như: “Tại sao cha lại nói như vậy?” – sau đó đặt câu hỏi tương tự cho những gì người thứ hai vừa nói. Thật dễ dàng khi nói: “Vâng, đúng vậy. Cha nói đúng. Con đồng ý” Hoặc phủ nhận những gì mình vừa được nghe: “Chính cha cũng không biết mình đang nói gì”. Thay vì thế – khi có hai người cha tôi kinh trọng và thương yêu, tôi như bị bắt buộc phải suy nghĩ và chọn cách nghĩ mà theo mình là hợp lý nhất. Qua một chặng đường thời gian khá dài nhìn lại, tôi nhận ra rằng, quá trình lựa chọn, suy ngẫm đã có giá trị hơn rất nhiều xo với việc chỉ đơn giản là đồng tình hay phủ nhận.
Một trong những nguyên nhân mà người giầu ngày càng giầu, người nghèo ngày càng nghèo và tầng lớp chung lưu luôn phải vật lộn với những khó khăn tài chính là chúng ta được học về tiền bạc ở nhà, không phải ở dưới những mái trường. Phần lớn con cái học về lĩnh vực này từ cha mẹ. Người cha nghèo có thể nói gì giúp chúng hiểu được chủ đề đồng tiền? Thường thì họ nói như sau: “Hãy đến trường và cố gắng học hành.” Con trẻ có thể tốt nghiệp với những điểm số cao nhất, nhưng sẽ chỉ có một sự chuẩn bị rất tiềm tàng về tài chính, đồng tiền hay cách suy nghĩ về những thứ đó.
Trường học không dạy học sinh về đồng tiền. Nơi ấy luôn trú trọng đào tạo những khả năng học tập duới mái trường và nơi công sở, bỏ qua những kiến thức tài chính nền móng nhất. Đó là lời lý giải tại sao những nhân viên ngân hàng, bác sĩ, kế toán – đa số họ đã tốt nghiệp loại giỏi hoặc ưu – lại trở thành những nạn nhân của các khó khăn tài chính trong suốt cuộc đời. Nguyên nhân của sự lạn phát, thâm hụt, thiếu ngân sách của chính phủ là do những nhà chính trị, chuyên gia kinh tế, tài chính. Là người đã đưa ra những quyết định, hướng đi không đúng đắn, bởi lẽ ngay bản thân họ cũng không được chuẩn bị một lượng kiến thức tài chính cơ bản. Một số người hầu như không sở hữu những thứ đó, mặc dù ai cũng có kiến thức và bằng cấp đáng kính nể.
Tôi có hai người cha, chính vì lẽ đó tôi đã học được từ cả hai người. Tôi thường phải vắt óc để suy nghĩ những lời khuyên của từng người. Qua đó tôi đã có được cách nhìn tinh tế về sức mạnh của ý nghĩ và sự ảnh hưởng của chúng đến cuộc sống của mỗi cá nhân.
Một người có thói quen nói: “Tôi không có đủ điều kiện cho thứ này.” Người thứ hai cấm không được dùng những từ ngữ đó. Ông bắt tôi phải nói: “Làm thế nào để tôi có đủ điều kiện cho thứ này?” Câu thú nhất là sự khẳng định, câu thứ hai là câu hỏi. Sự khẳng định đánh gục ta ngay tại trận, câu hỏi bắt ta phải suy nghĩ. Cha giầu giải thích cho tôi rằng, khi thốt ra những lởi lẽ kiểu như: Tôi không có đủ điều kiện cho thứ đó – trí óc ngừng làm việc. Câu hỏi luôn khích lệ bộ óc hoạt động. Trong công việc tập luyện trí óc – chiếc máy tính lợi hại nhất trên thế giới – ông là người cuồng tín. Ông thường nói: Ngày qua ngày trí óc của tôi trở nên mạnh mẽ hơn, bởi vì tôi luôn tập luyện nó. Càng mạnh mẽ bao nhiêu, tôi càng làm ra nhiều tiền bấy nhiêu. Ông tin rằng, khi nói: Tôi không có đủ điều kiện… là dấu hiệu của sự lười biếng trí tuệ.
Cả hai đều làm việc rất vất vả, nhưng tôi để ý thấy một trong số họ luôn để cho trí óc lơ mơ khi dính dáng đến tiền bạc, người thứ hai luôn có thói quen tập luyện bộ não của mình. Sau một thời gian dài, kết quả cho thấy, một người đã trở nên rất cứng cáp về mặt tài chính, người thứ hai thì yếu dần. Có thể so sánh cách sống và cách nghĩ của hai người qua sự tương phản của ví dụ sau – Một người ra sức tập luyện ở các câu lạc bộ thể hình, người thứ hai chỉ thích ngồi trong phòng suốt ngày xem vô tuyến. Biết cách tập luyện đều đặn luôn làm tốt cho sức khoẻ, việc vắt óc suy nghĩ sẽ cho ta nhiều cơ hội hơn để làm giầu. Sự lười biếng sẽ làm thâm hụt cả hai: sức khoẻ và gia tài.
Hai người cha của tôi có hai cách nghĩ trái ngược nhau. Người thứ nhất quả quyết rằng, những người giầu luôn phải có trách nhiệm trả nhiều thuế hơn, để qua đó chăm sóc một phần cho những kẻ nghèo hèn. Người thứ hai thường nói: Thuế trừng phạt những ai sản suất và thưởng cho những ai không sản suất. Một người thường động viên: Cố gắng học hành, để sau này kiếm một công ty tốt mà làm việc. Người thứ hai: Cố gắng học hành, để sau này kiếm một công ty tốt mà mua lại.
Người này than phiền:
Lý do khiến tôi không thể giầu được chỉ vì tôi có con cái.
Người kia thì than phiền:
Lý do khiến tôi bắt buộc phải giầu chỉ vì tôi có con cái.
Một người luôn động viên và tán thành những cuộc trao đổi về tiền bạc và buôn bán trong những bữa ăn.
Người thứ hai cấm không được nhắc đến những vấn đề dính dáng đến tiền bạc trong lúc ăn.
Một người nói: Khi đã dính đến tiền bạc, hãy hành động thật thận trọng, đừng liều lĩnh.
Người kia thì nói: Hãy học cách điều khiển được những mạo hiểm.
Cả hai người đều trả các khoản chi phí đúng thời hạn, nhưng người thì thanh toán đầu kỳ, người thì cuối kỳ.
Người thứ nhất luôn tin tưởng vào công ty nơi mình làm việc và chính phủ. Ông quan tâm đến các đợt tăng lương, hỗ trợ nhâm thọ, ưu đãi của y tế, trợ giúp khi ốm đau, kỳ nghỉ hay các khoản tàI trợ khác. Ông rất hâm mộ sáng kiến ưu đãi trong đIều trị hay mua đồ dùng tại các cửa hàng đặc biệt – ưu đãi của quân đội dành cho lính đã về hưu. Ông không ngừng ca ngợi chương trình bảo đảm việc làm đến khi về hưu cho nhân viên khoa học dậy trong trường. Nhiều khi những thứ đó đã trở thành quan trọng hơn cả chính công việc. Ông thường xuyên nói: Tôi đã làm việc rất vất vả cho chính phủ, giờ là lúc tôi có quyền hưởng thụ những trợ cấp đó.
Trong lĩnh vực tài chính người thứ hai chỉ tin cậy vào chính bản thân mình.
Một người luôn phải bươn trải mong tích kiệm được vài đôla. Người kia luôn có thói quen đầu tư.
Một người dậy tôi cách viết một lý lịch gây nhiều sự chú ý để kiếm được việc làm tốt. Người thứ hai dậy tôi cách viết một business plan thật chặt chẽ và đi theo xu hướng thị trường để có thể tạo được công ăn việc làm.
Là sản phẩm của hai người cha có cá tính mạnh tôI đã có quyền sở hữu sự sa hoa trong việc quan sát kết quả của những suy nghĩ. Tôi nhận ra một đIều quan trọng rằng, qua những suy nghĩ mọi người thật sự đã trở thành anh thợ rèn của số phận mình.
Cha ruột của tôi thường nói: Cha sẽ không bao giờ giầu. Lời tuyên đoán đó đã trở thành hiện thực. Cha giầu thường xuyên nhìn mình bằng ánh mắt giầu có. Ông hay nói: Tôi là một người giầu có. Những người giầu sẽ không bao giờ thốt ra những lời lẽ như cha con. Ngay cả khi họ bị nhấn chìm xuống bùn lầy do thất bại, họ cũng vẫn duy trì cách nhìn nhận và lối suy nghĩ như xưa. Luôn có những khác biệt giữa hai loại người: người nghèo và người đang gặp thất bại tài chính. Thất bại tài chính là tức thời, còn nghèo khó là vĩnh cửu.
Cha ruột của tôi thường nói: Cha không quan tâm đến tiền bạc, hoặc: Tiền không có ý nghĩa. Cha giầu thường nhắc: Tiền bạc – đó là sức mạnh!
Sức mạnh của ý nghĩ thật khủng khiếp. Ngay từ lúc bé tôi đã thấu hiểu được sự lợi hại của những suy nghĩ tưởng như vô tri vô giác trong trí óc. Do vậy tôi luôn đIều khiển những suy nghĩ và thận trọng diễn đạt chúng.
Tôi cũng sớm nhận ra được một sự thật phũ phàng – cha ruột của tôi nghèo không phải vì số tiền ông kiếm được, mà nghèo vì những suy nghĩ và hành động. Là một đứa trẻ – có hai người cha – tôi đã trở thành người rất cẩn thận trong việc chọn lựa các suy nghĩ, để rồi quyết định lấy làm của riêng. Tôi phảI nghe ai đây – cha giầu hay người cha nghèo ruột thịt của tôi?
Cả hai đều rất tôn trọng kiến thức và việc học tập, nhưng họ không đồng tình trong việc học để làm gì. Một người thì muốn tôi học hành chăm chỉ, tốt nghiệp đại học, sau đó làm việc cho đồng tiền. Ông muốn tôi học để trở thành kỹ sư, kế toán, luật sư hoặc có bằng quản trị kinh doanh. Người thứ hai khuyến khích tôi học để trở thành người giầu có, để hiểu đồng tiền làm việc thế nào và học cách điều khiển đồng tiền làm việc cho mình.
Tôi không làm việc cho đồng tiền – đó là những lời lẽ ông nhắc inhắc lại không chán. Đồng tiền làm việc cho tôi!
Khi vừa tròn 10 tuổi, tôi quyết định nghe người cha giầu và học từ ông về tiền bạc. Khi đã lựa chọn, tôI quyết định sẽ không nghe người cha nghèo đã sinh ra tôI nữa, mặc dù ông là người sở hữu rất nhiều bằng cấp của các trường ĐH nổi tiếng.
Và tất cả đã thay đổi!
Khi một lần đã quyết định nên nghe ai cũng là sự khởi đầu của cuộc hành trình học vấn của tôi về lính vực tiền bạc. Cha giầu đã dậy dỗ tôi trong suốt thời gian 30 năm, cho đến khi tôi vừa chòn 39 tuổi. Ông thôi không dậy khi biết rằng, tôi nắm bắt được hầu hết những gì ông muốn nhét vào cái đầu không mấy thông minh của tôi.
Tiền bạc là một trong những sức mạnh. Nhưng cái có nhiều quyền lực và sức mạnh hơn nó là sự hiểu biết sâu xa về tài chính. Tiền đến rồi đi, nhưng khi có kiến thức cơ bản và biết được đồng tiền làm việc thế nào, ta sẽ thống trị được chúng để từ đó xây dựng sự giầu sang.
Nguyên nhân của những khó khăn tài chính là mọi người đến trường và đã không bao giờ biết được đồng tiền làm việc ra sao, do vậy suốt cuộc đời họ nai lưng ra làm việc cho đồng tiền.
Những điều không thể bỏ qua trong cuốn sách cha giàu cha nghèo
Tại sao phải dạy con về tài chính?
Hầu hết mọi người không nhận ra rằng: trong cuộc sống, vấn đề không phải là bạn kiếm được bao nhiêu tiền mà là bạn giữ được bao nhiêu tiền và làm cho nó sinh sôi nảy nở như thế nào.
Điều đó cũng giống như trồng một cái cây vậy. Ban đầu, bạn sẽ phải mất rất nhiều công sức để chăm bón nó, đến một ngày nào đó, khi rễ cây đã đâm sâu vào lòng đất, cái cây đã đủ lớn để tự mình phát triển, bạn sẽ không cần phải tốn công chăm bón nữa mà vẫn có thể được hưởng những mùa quả ngọt lành.
Muốn cho cái cây tiền bạc của bạn phát triển, bạn phải có nhiều kiến thức về tài chính để biết chăm bón nó thật đúng cách.
Khi bắt đầu học cách làm giàu, tôi và Mike hãy còn là những đứa trẻ nên người cha giàu đã nghĩ ra một cách đơn giản để dạy chúng tôi. Trong nhiều năm, ông đã vẽ nhưng bức vẽ và sử dụng những từ ngữ đơn giản để Mike và tôi hiểu được những biệt ngữ và sự vận động của tiền bạc. Nhiều năm sau đó ông mới bắt đầu thêm vào những con số. Tuy đơn giản nhưng những bức vẽ này đã góp phần hướng dẫn hai đứa trẻ bé nhỏ trong một bài toán số học khổng lồ về tài chính, hình thành một nền tảng sâu sắc và kiên cố …
Quy luật 1. Bạn phải biết sự khác nhau giữa tài sản (asset) và tiêu sản (liability), và để được giàu có, bạn phải mua tài sản.
Nghe thì có vẻ đơn giản đến buồn cười, nhưng hầu hết lại không biết được nó uyên thâm đến mức nào, vì họ không biết được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản là ở đâu.
“Người giầu kiếm được tài sản. Người nghèo và người trung lưu chỉ thu được tiêu sản, nhưng họ nghĩ rằng họ đã kiếm được tài sản. ” Khi người cha giàu giải thích điều này cho Mike và tôi, chúng tôi nghĩ ông đang nói đùa. Chúng tôi đang chờ đợi một bí mật làm giàu, vậy mà ông lại trả lời như thế đấy. Nó đơn giản đến mức chúng tôi phải khựng lại một lúc lâu để suy nghĩ về điều đó.
“Bác muốn nói tất cả những điều chúng con cần biết là : tài sản là gì, sau đó phải đi kiếm nó và rồi chúng con sẽ giàu có sao?” Tôi ngờ vực hỏi.
Người cha giàu gật đầu. “Đơn giản thế thôi.”
“Nếu chỉ đơn giản như thế, tại sao những người khác lại không giàu được?” Tôi hỏi lại.
Người cha giàu mỉm cười. “Vì người ta không biết được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản.”
“Tại sao người lớn lại ngớ ngẩn thế nhỉ? Nếu đó chỉ là một điều đơn giản nhưng quan trọng thì tại sao người ta lại không muốn tìm hiểu?”
Người cha giàu phải mất vài phút mới giải thích được cho chúng tôi biết tài sản là gì và tiêu sản là gì.
Là một người lớn, tôi cảm thấy giải thích điều này với những người lớn khác thật khó khăn. Vì sao vậy? Vì người lớn khôn ngoan hơn. Gần như trong mọi trường hợp, hầu hết người lớn không nắm được sự đơn giản của một ý tưởng vì họ đựơc giáo dục khác nhau. Và một người lớn thông minh thường cảm thấy bị hạ thấp khi phải chú ý đến những khái niệm quá đơn giản.
Người cha giàu tin vào quy luật KISS – “Giữ Cho Đơn Giản” (Keep It Simple Stupid) – vì vậy ông cố làm cho mọi thứ trở nên thật đơn giản với hai chúng tôi . . .
Ông nói: “Những điều xác định nên một tài sản không phải là từ ngữ mà là những con số. Và nếu các con không biết đọc số thì các con không thể xác định được một tài sản trong mớ bòng bong ấy đâu.”
Trong kế toán, vấn đề không phải ở bản thân những con số mà là những con số ấy nói lên điều gì. Cũng như từ ngữ vậy, vấn đề không phải ở bản thân từ ngữ mà là câu chuyện những từ ngữ ấy kể.
“Nếu con muốn trở lên giàu có, con phải đọc được và hiểu được những con số.” Người cha giàu lặp đi lặp lại câu nói ấy cả ngàn lần với chúng tôi: “Người giàu kiếm được tài sản. Người nghèo và người trung lưu chỉ kiếm được tiêu sản.”
Mô hình vòng quay của 1 tài sản

Hình hộp ở trên là Bản kê lợi tức, hay còn gọi là Bản kê lời lỗ. Nó đo các khoản thu nhập và chi phí, tiền vào và tiền ra. Cái hộp bên dưới là Bản cân đối thu chi. Nó được gọi như vậy vì nó đòi hỏi phải có sự cân đối giữa tài sản và tiêu sản. Lý do chính gây ra cuộc vật lộn tài chính đơn giản là vì người ta không biết được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản. Nguyên nhân của sự nhầm lẫn chính là vì định nghĩa của hai từ này. Càng cố tra từ điển, bạn sẽ chỉ càng nhầm lẫn nhiều hơn thôi.
Người cha giàu đã nói với hai chúng tôi một cách đơn giản rằng: “Tài sản bỏ tiền vào túi các con, còn tiêu sản thì lôi tiền ra khỏi túi.”

Nếu bạn muốn trở lên giàu có, hãy mua tài sản. Nếu muốn trở lên nghèo đi, hãy mua tiêu sản. Chính vì không phân biệt được sự khác nhau này mà rất nhiều người gặp các rắc rối về tài chính.
“Mù chữ” và “mù số” đều là nguyên nhân gây ra những khó khăn tài chính. Nếu người ta gặp khó khăn tài chính nghĩa là đang có một điều gì đó mà họ không hiểu được: hoặc những từ ngữ hoặc những con số. Người giàu phát tài được là nhờ họ “biết đọc biết viết” trong nhiều lĩnh vực khác nhau hơn những người đang phải vật lộn về tài chính. Vì vậy, nếu bạn muốn giàu có và giữ được của cảiI, bạn cần phải hiểu biết về tài chính, cả về từ ngữ lẫn những con số.
Mũi tên trong sơ đồ biểu thị vòng quay của tiền mặt. Chỉ toàn những con số thì thể hiện được rất ít. Chỉ toàn từ ngữ cũng không nói lên được gì nhiều. Đó là câu chuyện về sự tính toán. Khi báo cáo tài chính, việc đọc những con số nghĩa là đang nhìn vào cốt truyện, câu chuyện kể về nơi đến của vòng quay tiền mặt. Trong 80% các gia đình, câu chuyện tài chính kém vui không phảI vì họ không làm ra tiền mà vì họ dùng tiền để mua tiêu sản chứ không mua tài sản.
Ví dụ:
Đây là vòng quay tiền mặt của một người nghèo hay 1 người trẻ tuổi đi làm

Đây là mô hình vòng quay tiền mặt của người trung lưu


Còn đây là vòng quay tiền mặt của người giàu có

Những sơ đồ trên thể hiện vòng quay tiền mặt trong cuộc sống người nghèo, người trung lưu và người giàu. Chính là vòng quay tiền mặt đang kể chuyện, câu chuyện về một người sử dụng tiền bạc của anh ta như thế nào, anh ta làm gì sau khi cầm tiền trong tay …
Người ta thường nói rằng:”Tôi đang mắc nợ, vì vậy tôi phải đi kiếm tiền.”
Nhưng có nhiều tiền thường không giải quyết được vấn đề, thật sự nó chỉ làm cho mọi chuyện trở lên trầm trọng hơn thôi. Tiền làm cho những sai lầm bi thảm của con người trở nên hiển nhiên. Chính vì vậy mà thông thường, khi người ta được hưởng một vận may bất ngờ – ví dụ như được thừa hưởng gia tài, tăng lương hay trúng số – trước sau gì thì họ cũng sẽ trở về với tình trạng tài chính hỗn độn như ban đầu, nếu không muốn nói là tệ hơn lúc đầu nữa. Tiền chỉ làm nổi bật mô hình vòng quay tiền mặt trong đầu bạn. Nếu bạn thường sử dụng hết mọi thứ bạn có thì gần như chắc chắn là việc tăng lương sẽ dẫn đến tăng chi tiêu.
Chúng ta thường kiếm tiền bằng kỹ năng nghề nghiệp của mình và đa số sinh viên rời trường mà không có một kỹ năng tài chính nào, nên dù hàng triệu người có học theo đuổi nghề nghiệp của mình một cách thành công, họ vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn tài chính. Họ làm việc vất vả nhưng không giàu được. Điều thiếu sót trong vốn học của họ không phải là làm thế nào để kiếm tiền, mà là làm thế nào để sử dụng tiền – kiếm được tiền rồi thì cần phải làm gì với chúng. Cái đó gọi là năng lực tài chính – bạn làm gì với tiền bạc sau khi đã kiếm ra chúng, làm sao để giữ không cho người khác chiếm lấy, bạn giữ chúng được bao lâu, tiền bạc sẽ làm việc cho bạn như thế nào?
Hầu hết những khó khăn tài chính người ta gặp phải là do họ không hiểu được vòng quay tiền mặt. Một người có thể được học hành tới nơi tới chốn, thành công trong sự nghiệp nhưng vẫn không hiểu gì về tài chính. Những người này thường phải làm việc nhiều hơn cần thiết vì họ đã học cách làm việc chăm chỉ, nhưng không được học cách buộc tiền bạc phải làm việc cho mình.
Câu chuyện về 1 giấc mơ tài chính trở thành 1 cơn ác mộng tài chính
Cuốn phim về những người làm việc chăm chỉ có sẵn một khuôn mẫu. Sau khi kết hôn những cặp vợ chồng trẻ liền thuê một căn hộ để ở. Vấn đề là căn hộ quá tù túng, nên họ quyết định phải tiết kiệm để mua một ngôi nhà trong mộng và có thể có con. Lúc này họ có hai nguồn thu nhập và họ bắt đầu tập trung vào sự nghiệp của mình. Thu nhập của họ bắt đầu tăng lên.
Chi phí số một của hầu hết mọi người là thuế: thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng khi tiêu xài, mua sắm hàng hoá … Khi thu nhập tăng, chi phí tăng theo, số tiêu sản cũng sẽ tăng lên.
Có thể chứng minh bằng cách quay lại ví dụ của cặp vợ chồng trẻ. Kết quả của việc thu nhập tăng lên là họ quyết định sẽ đi mua ngôi nhà trong mộng. Khi dã có nhà, họ sẽ phải trả một thứ thuế mới gọi là thuế bất động sản. Sau đó họ mua một chiếc xe mới, đồ đạc mới và những dụng cụ mới để hợp với ngôi nhà mới của mình. Rồi họ bỗng giật mình nhận ra rằng phía cột tiêu sản đầy những món nợ cầm cố và nợ tín dụng.
Lúc này, họ rơi vào cái bẫy Rat Race. Rồi một đứa trẻ ra đời. Họ làm việc nhiều hơn. Nhiều tiền hơn và thuế cao hơn, gọi là đóng thuế theo thu nhập. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại.
Một tấm thẻ tín dụng được gới đến. Họ sử dụng nó. Nó hết hạn. Một công ty cho vay gọi đến bảo rằng “tài sản ” lớn nhất của họ, ngôi nhà, được định giá cao. Công ty này đưa ra một món nợ bảo đảm (bill consolidation loan), và bảo rằng tốt hơn hết là thanh toán những món nợ lãi suất cao bằng thẻ tín dụng của họ. Bên cạnh đó, lợi tức nhờ mái nhà của họ chính là sự khấu trừ thuế. Họ làm theo điều đó, và thở dài nhẹ nhõm. Những tấm thẻ tín dụng đã được trả. Bây giờ họ gom những món nợ tiêu thụ lại thành một văn tự cầm nhà. Số tiền phải trả giảm xuống vì họ gia hạn món nợ đến 30 năm cơ mà.
Những người hàng xóm gọi điện rủ họ đi mua sắm, vì đang có đợt bán hàng giảm giá … Một cơ hội để tiết kiệm chút ít tiền. Họ tự nhủ: “Tôi sẽ không mua gì cả. Tôi chỉ đi xem thôi.” Nhưng ngay khi nhìm thấy một vật gì đó, họ lại lấy tấm thẻ tín dụng ra …
Khi thu nhập tăng lên

Chi phí tăng …… Số tiêu sản cũng tăng

Tôi thường gặp những cặp vợ chồng như thế. Tên họ thì khác nhau nhưng tình trạng tài chính thì giống nhau cả. Những thói quen tiêu xài đã buộc họ phải kiếm thêm nguồn thu nhập khác.
Họ không biết rằng chính cách tiêu xài tiền của họ, là nguyên nhân chính gây ra những cuộc vật lộn tài chính. Mọi chuyện là do không hiểu biết về tài chính và không phân biệt được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản.
Người nghèo và người trung lưu rất thường cho phép tiền bạc làm chủ mình. Mỗi buổi sáng họ chỉ đơn giản thức dậy và đi làm mà quên tự hỏi rằng những điều mình đang làm có ý nghĩa hay không. Không am hiểu nhiều về tiền bạc, phần lớn mọi người để cho quyền lực đáng sợ của tiền bạc điều khiển mình.
Người ta thường làm một việc gì đó vì những người khác cũng làm như vậy. Họ thích ứng mà không chịu đặt câu hỏi. Họ lặp lại một cách không suy nghĩ những điều họ nghe được, những ý tưởng theo kiểu “căn nhà là cả một tài sản”, “ngôi nhà là sự đầu tư lớn nhất của bạn”, “hãy tìm một công việc an toàn”, “đừng mạo hiểm”…
Khi mike và tôi 16 tuổi, chúng tôi bắt đầu làm việc cho cha Mike sau giờ học và mỗi cuối tuần. Chúng tôi thường ngồi cùng cha Mike trong khi ông tiếp những nhân viên ngân hàng, luật sư, kế toán viên, người môi giới, nhà đầu tư, nhà quản lý và những người lao động …
Cha Mike đã không đi theo đám đông. Ông có những suy nghĩ riêng và ông rất ghét câu nói: “Chúng tôi phải làm vậy vì mọi người đều làm vậy.” Ông cũng không ưa những từ như “không thể”. Nếu bạn muốn ông làm một điều gì đó, chỉ cần nói khích rằng:”Tôi không nghĩ là anh có thể làm được điều đó.”
Khi ngồi dự những buổi họp của ông, Mike và tôi học được nhiều thứ… Cha của Mike không được học nhiều ở trường nhưng ông rành về tài chính và cuối cùng đã thành công. Ông thường nói với chúng tôi”Một người thông minh thuê những người còn thông minh hơn anh ta nữa”.
Chúng tôi bắt đầu hiểu ra vì sao ngưòi cha giàu bảo chúng tôi rằng: trường học được thiết kế để tạo ra những người lao động tốt chứ không phải những ông chủ giỏi.
Khi tôi 16 tuổi có lẽ tôi đã có một nền tảng tài chính tốt hơn nhiều so với cha mẹ tôi … Một ngày kia, cha ruột tôi nói rằng ngôi nhà của chúng tôi là sự đầu tư lớn nhất của ông. Và thế là một cuộc tranh luận không lấy gì làm vui vẻ nổ ra khi tôi nói rằng, dồn tiền vào ngôi nhà chúng tôi đang ở không phải là một sự đầu tư tốt.
Những biểu đồ sau minh hoạ sự khác biệt về nhận thức giữa người cha giàu và người cha nghèo trong vấn đề nhà cửa Một người nghĩ rằng ngôi nhà là một tài sản, còn người kia nghĩ rằng nó là một tiêu sản.
| Người cha giàu | ![]() |
| Người cha nghèo | ![]() |
Tôi nhớ lúc tôi vẽ sơ đồ này cho cha tôi xem và chỉ cho ông hướng đi của vòng quay tiền mặt, những chi phí lệ thuộc khi làm chủ một ngôi nhà. Một ngôi nhà lớn nghia là chi phí lớn, và vòng quay tiền mặt sẽ tiếp tục đi ra ngoài qua cột chi phí.
| Tiêu sản |
|
Tôi biết rằng với nhiều người, một ngôi nhà đẹp là sự đầu tư lớn nhất của họ, dù rằng nó không phải là một tài sản mà là một tiêu sản, vì nó làm cho tiền ra khỏi túi nhiều hơn. Tuy nhiên, sẽ có nhiều người không đồng ý với tôi bởi lẽ một ngôi nhà đẹp rất dễ gây xúc cảm. Và khi nói đến chuyện tiền bạc thì những cảm xúc mạnh mẽ sẽ làm mờ đi trí thông minh tài chính.
1. Khi nhắc chuyện nhà cửa, tôi muốn nói rằng: hầu hết mọi người phải làm việc suốt đời để trả tiền cho một ngôi nhà mà họ không bao giờ thực sự được sở hữu. Nói cách khác, sau nhiều năm, hầu hết mọi người đều muốn mua một ngôi nhà mới, mỗi lần mua nhà sẽ dẫn đến một món nợ kéo dài nhiều năm trong khi nợ căn nhà trước còn chưa trả xong.
2. Nhà cửa không phải lúc nào cúng tăng giá. Điều mất mát lớn nhất là bạn để mất đi những cơ hội. Nếu bạn đầu tư toàn bộ tiền bạc cho ngôi nhà, bạn bị buộc phải làm việc vất vả hơn vì tiền bạc sẽ tiếp tục chuyển qua bên cột chi phí thay vì thêm vào cột tài sản, đó chính là khuôn mẫu kinh điển vòng quay tiền mặt của những gia đình trung lưu. Nếu ban đầu một cặp vợ chồng trẻ để dành nhiều tiền vào cột tài sản thì những năm sau này họ sẽ sống dễ dàng hơn, nhất là khi con cái đến tuổi đi học. Tài sản của họ sẽ phát triển lên và có thể giúp họ kiểm soát các chi phí. Thông thường thì có một ngôi nhà cũng giống như gánh một món nợ trị giá nhà phải trả và làm tăng các chi phí của bạn.
Tóm lại, kết quả cuối cùng khi quyết định sở hữu một căn nhà quá đắt tiền thay vì nên bắt đầu một danh mục vốn đầu tư, sẽ tác động mạnh vào một cá nhân theo ít nhất là ba cách:
1. Mất thời gian, trong lúc những tài sản khác có thể sẽ được nâng giá trị lên.
2. Mất một phần vốn, vì số tiền đó có thể được đem đi đầu tư thay vì phải trả các chi phí bảo quản trực tiếp liên quan đến ngôi nhà.
3. Mất cơ hội rèn luyện. Người ta thường coi ngôi nhà, tiền tiết kiệm và kế hoạch lương hưu là tất cả những gì họ có trong cột tài sản. Vì không đầu tư nên họ để mất đi những kinh nghiệm đầu tư và sẽ không bao giờ có thể trở thành “những nhà đầu tư sành điệu”.
Tôi không nói bạn đừng mua nhà. Tôi muốn nói, hãy hiểu được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản. Khi muốn có một căn nhà lớn hơn đầu tiên tôi phải mua một số tài sản để có thể phát sinh vòng quay tiền mặt đủ trả cho ngôi nhà ấy đã.
Những bản kê tài chính cá nhân của cha ruột tôi là minh chứng tốt nhất cho cuộc sống của một con người trong vòng Rat Race. Các chi phí của ông dường như luôn đuổi kịp các thu nhập, không hề cho phép ông đầu tư vào một tài sản nào. Kết quả là số tiêu sản của ông, ví dụ như những món cầm cố hay nợ thẻ tín dụng, còn lớn hơn cả số tài sản. Những bức tranh sau còn có giá trị hơn cả ngàn từ ngữ:
| Bản kê khai tài chính của cha nghèo | ![]() |
Trái lại, bản kê tài chính cá nhân của người cha giàu lại phản ánh kết quả của một cuộc sống dành cho việc đầu tư và giảm đến mức tối thiểu các tiêu sản.
| Bản kê khai tài chính của cha giàu | ![]() |
Xem lại bản kê tài chính của người cha giàu ta sẽ hiểu tại sao người giàu càng ngày càng giàu hơn. Cột tài sản làm phát sinh nhiều thu nhập hơn số cần thiết cho các chi phí, và chúng lại được đem đầu tư lại vào cột tài sản. Cột tài sản sẽ ngày càng phát triển và vì vậy mà số thu nhập sẽ ngày càng nhiều hơn.
Kết quả là người giàu ngày càng giàu hơn.
| Lý do khiến người giàu ngày càng giàu hơn | ![]() |
Những người trung lưu luôn gặp phải những khó khăn tài chính không dứt vì thu nhập chính của họ là tiền lương, và khi tiền lương tăng thì thuế cũng tăng. Mà khi lương tăng thì các chi phí của họ cũng có khuynh hướng gia tăng bằng số tiền dư, vì vậy mà xuất hiện cụm từ “Rat Race”. Họ xem ngôi nhà như một tài sản lớn nhất trong khi nó thực ra là một loại tiêu sản, thay vì phải đầu tư tiền bạc cho những tài sản thật sự có thể tạo ra thu nhập.
Khuôn mẫu của việc xem ngôi nhà như một sự đầu tư và triết lý cho rằng: lương tăng có nghĩa là bạn có thể mua một ngôi nhà lớn hơn, hay tiêu xài nhiều hơn, chính là nền tảng cho một xã hội đầy nợ nần như ngày nay. Quá trình gia tăng chi phí đẩy nhiều gia đình đến những món nợ ngày càng lớn hơn và tình trạng tài chính không chắc chắn hơn, dù rằng có thể họ đang được thăng tiến trong công việc và được trả lương cao hơn mức bình thường.
| Lý do khiến người trung lưu luôn gặp phải khó khăn về tài chính | ![]() |
Bi kịch ở đây là việc thiếu kiến thức tài chính ban đầu đã tạo ra những rủi ro mà giai cấp trung lưu phải đối mặt. Lý do họ muốn được an toàn là vì vị thế tài chính của họ quá mong manh. Bản cân đối thu chi của họ không cân bằng. Chúng chịu gắng nặng quá nhiều tiêu sản mà không có một tài sản thực sự nào làm phát sinh thu nhập cả. Thông thường, nguồn thu nhập duy nhất của họ là tièn lương. Sinh kế của họ phụ thuộc vào các ông chủ.
Vì vậy, khi đến lượt mình được cuộc sống “chia bài”, những người này không thể nắm bắt được những cơ hội tốt. Họ muốn được an toàn đơn giản vì họ đang phải làm việc vất vả, trả thuế ở mức cao nhất và gánh hàng đống nợ nần…
Như tôi đã nói ở phần trước, quy luật quan trọng nhất là biết được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản. Một khi bạn đã hiểu được những khác biệt này, hãy tập trung mọi nỗ lực để mua những tài sản có khả năng phát sinh thu nhập. Đó là cách tốt nhất để bắt đầu con đường làm giàu. Cứ tiếp tục như vậy, cột tài sản của bạn sẽ tăng lên. Cố gắng chiết giảm tiêu sản và chi phí xuống, bạn sẽ có nhiều tiền hơn để đổ vào cột tài sản. Chẳng mấy chốc thì nền tảng tài sản của bạn sẽ vững vàng đến mức bạn có thể nghĩ đến việc đầu tư…
Giới trung lưu gọi việc đầu tư là một hành động “mạo hiểm”. Thật ra bản thân việc đầu tư không hề mạo hiểm. Chính sự thiếu thông minh nhanh nhạy về tài chính và thiếu những kiến thức tài chính đơn giản mới là nguyên nhân gây ra sự mạo hiểm.
Nếu bạn làm theo những điều mà đa số mọi người thường làm, nói chung công việc của bạn sẽ như thế này:
1.Nuôi chủ. Hầu hết những người làm việc hưởng lương đều làm cho các ông chủ hay những cổ đông giàu hơn. Những nỗ lực và thành công của bạn sẽ giúp cho người chủ thành công hơn và có nhiều tiền hơn.
2. Nuôi chính quyền. Chính quyền nhận phần mình trong số lương của bạn thậm chí trước khi bạn nhìn thấy nó nữa. Khi cố gắng làm việc chăm chỉ hơn, chỉ đơn giản là bạn đang làm gia tăng số thuế phải nộp cho chính quyền.
3. Nuôi ngân hàng. Sau khi trả thuế, chi phí lớn nhất kế tiếp thường là những món nợ tín dụng.
Vấn đề là khi bạn cố gắng làm việc chăm chỉ hơn thì ba giới trên sẽ lấy đi một phần chia lớn hơn trong những nỗ lực của bạn. Vì vậy, bạn phải học cách làm thế nào để cho các nỗ lực của bạn có thể làm tăng lợi nhuận trực tiếp cho bản thân và gia đình mình.
Một khi bạn đã quyết định tập trung hết tâm trí để chăm nom việc kinh doanh riêng, bạn sẽ xác định một mục tiêu như thế nào? Với hầu hết mọi người, họ phải giữ lấy nghề nghiệp của mình và dựa vào tiền lương để kiếm tài sản.
Khi tài sản lớn lên, họ sẽ đo mức độ thành công như thế nào? Khi nào người ta mới nhận ra rằng mình đã giàu có, đã có tiền? Ngay khi biết được những định nghĩa về tài sản và tiêu sản, tôi cũng đã định nghĩa riêng cho mình về sự có tiền. Đúng ra tôi đã mượn định nghĩa này của một người bạn tên là Buckminster Fuller. Anh ấy nói: “Sự có tiền chính là khả năng tồn tại của một người trong một số ngày sắp tới…” hay nói cách khác, nếu hôm nay bạn ngưng làm việc thì bạn sẽ tồn tại được bao lâu?
Sự có tiền chính là sự đo vòng quay tiền mặt bên cột tài sản so với cột chi phí.
Hãy lấy một ví dụ nhỏ. Giả sử vòng quay tiền mặt bên cột tài sản của tôi là 1.000$ một tháng. Còn số chi phí hàng tháng của tôi là 2.000$. Vậy khả năng tiền mặt của tôi như thế nào?
Quay về với định nghĩa của Buckminster Fuller. Nếu xét một tháng 30 ngày thì tôi sẽ chỉ có đủ số tiền tiêu dùng trong nửa tháng.
Khi đạt đến mức vòng quay tiền mặt bên cột tài sản là 2.000$ một tháng, tôi sẽ trở nên có tiền.
Như vậy nghĩa là tôi chưa giàu có, nhưng tôi có tiền. Lúc này mỗi tháng tôi sẽ có những thu nhập mới phát sinh từ những tài sản có thể giải quyết vấn đề chi phí hàng tháng cho mình. Nếu muốn tăng chi phí, đầu tiên tôi phải tăng vòng quay tiền mặt từ số tài sản để có thể duy trì sự có tiền này. Chú ý rằng vào thời điểm này, tôi không còn bị phụ thuộc vào tiền lương nữa. Tôi phải tập trung vào và phải thành công trong việc xây dựng cột tài sản đã giúp tôi trở nên sung túc về tài chính. Nếu hôm nay tôi nghỉ việc, tôi vẫn có thể trang trải các chi phí hàng tháng nhờ vòng quay tiền mặt tài sản của mình.
Mục đích kế tiếp là phải có dư một số tiền trong vòng quay tiền mặt để đầu tư trở lại vào cột tài sản. Càng nhiều cột đầu tư vào cột tài sản thì nó sẽ càng phát triển. Và chỉ cần giữ được số chi phí thấp hơn số tiền mặt phát sinh từ những tài sản này thì tôi sẽ càng trở nên giàu hơn, với ngày càng nhiều thu nhập từ những nguồn khác ngoài sức lao động của mình.
Hãy nhớ:
Người giàu mua tài sản
Người trung lưu mua những tiêu sản mà họ nghĩ là tài sản
Người nghèo chỉ có toàn chi phí
st






